“Mẹ chỉ đang nghĩ…”

“Nếu mẹ không phải là tổng giám đốc của Tập đoàn Giang Lai.”

“Nếu mẹ chỉ là một người phụ nữ bình thường.”

“Liệu chúng ta có thể mãi sống những ngày tháng yên bình như thế này không?”

Tôi nắm tay mẹ.

“Mẹ à.”

“Mẹ là người như thế nào không quan trọng.”

“Quan trọng là mẹ là mẹ của con.”

“Dù mẹ ở đâu, dù mẹ làm gì.”

“Chúng ta vẫn sẽ như hôm nay.”

“Chỉ cần có mẹ, nơi đó chính là nhà.”

Mẹ nhìn tôi, gật đầu thật mạnh.

Tối hôm đó, mẹ ngủ rất sâu, rất ngon.

Sáng hôm sau, tôi tiễn mẹ ra sân bay.

Tại cửa kiểm tra an ninh, mẹ ôm tôi.

“Niệm Niệm, đợi mẹ về nhé.”

“Vâng, con sẽ đợi mẹ.”

Tôi nhìn theo bóng lưng mẹ bước vào cửa kiểm tra an ninh.

Vẫn thẳng lưng, vẫn mạnh mẽ như thế.

Nhưng tôi biết, có điều gì đó đã thay đổi.

Bộ áo giáp của mẹ vẫn còn.

Nhưng dưới bộ giáp ấy, trái tim mềm mại nhất của mẹ,

từ nay đã có một nơi để neo đậu và nghỉ ngơi.

Đó chính là tôi.

19

Sau khi mẹ rời đi, cuộc sống trở lại bình yên.

Nhưng cũng có chút gì đó thay đổi.

Trái tim tôi, như được lấp đầy bởi điều gì đó.

Trở nên vững vàng, trầm lắng.

Tôi không còn là cô bé nhỏ cần được mẹ che chở dưới đôi cánh nữa.

Tôi cũng đã trở thành một bến cảng nhỏ,

nơi mẹ có thể dựa vào.

Thu qua đông đến.

Thời gian trôi thật nhanh.

Chớp mắt đã đến cuối học kỳ.

Trường tổ chức một buổi triển lãm tổng kết năm học.

Chủ đề là “Thành phố”.

Giáo sư Tôn hy vọng mỗi chúng tôi sẽ nộp một tác phẩm

có thể đại diện cho sự trưởng thành của bản thân trong học kỳ này.

Tôi rơi vào bế tắc.

Thành công của Tái sinh như một ngọn núi khổng lồ đè nặng trước mặt tôi.

Tất cả mọi người đều kỳ vọng tôi sẽ vẽ ra một tác phẩm

sâu sắc hơn, gây ấn tượng mạnh hơn nữa.

Ngay cả bản thân tôi cũng vô thức muốn vượt qua chính mình.

Tôi thử vẽ rất nhiều bản phác thảo.

Vẽ sự xa cách của thành phố, vẽ sự lạnh lùng của đám đông, vẽ sự cô đơn dưới ánh đèn neon.

Nhưng những bức tranh ấy, luôn khiến tôi thấy gượng gạo.

Rất giả tạo.

Như đang cố gắng than thở một cách vô cớ.

Bởi vì, thành phố mà tôi cảm nhận hiện tại, không phải như vậy.

Tôi cảm nhận được, là tia nắng đầu tiên mỗi sáng rọi vào phòng vẽ.

Là tiếng cười khi Mạnh Hạ kéo tôi tranh giành miếng thịt kho cuối cùng ở căn tin.

Là ly cà phê nóng mà Chu Việt đưa tôi khi tôi không vẽ nổi nữa.

Là lúc tôi gọi video cho mẹ vào chiều tối, bà ríu rít khoe mẻ lò bánh mới nướng bị cháy.

Thế giới của tôi giờ đây, ấm áp, sáng sủa, và đầy ắp hơi thở đời thường.

Tôi không thể vẽ ra những nỗi đau sâu sắc mà mình chưa từng trải qua.

Tôi kể những băn khoăn ấy cho giáo sư Tôn.

Nghe xong, ông bật cười.

“Giang Niệm, em nghĩ rằng nỗi đau nhất định phải sâu sắc hơn niềm vui sao?”

Tôi sững lại.

“Nghệ sĩ nhất định phải vẽ nỗi buồn sao?”

Ông chỉ tay ra ngoài cửa sổ.

“Em nhìn kìa.”

“Người mẹ kia, đang đẩy xe nôi, gương mặt đầy hạnh phúc.”

“Cậu con trai kia, vừa mua khoai nướng cho bạn gái, cười tươi rạng rỡ.”

“Cả người đàn ông kia, vừa tan làm, mệt mỏi rã rời nhưng khi nghe điện thoại của con, ánh mắt liền trở nên dịu dàng.”

“Niềm vui của họ, chẳng lẽ không sâu sắc sao?”

“Cuộc sống của họ, chẳng lẽ không đáng để được ghi lại sao?”

“Tái sinh là huân chương quá khứ của em, nhưng nó không nên là xiềng xích cho tương lai của em.”

“Em đã bước ra khỏi đó, tranh của em, cũng nên bước ra ngoài rồi.”

Lời của giáo sư Tôn như một tia sét,

xé toạc màn sương mù trong đầu tôi.

Đúng vậy.

Tại sao tôi lại cố gắng vẽ những cảm xúc không thuộc về mình?

Thế giới của tôi bây giờ, đẹp đẽ biết bao.

Tại sao tôi không vẽ lại chính vẻ đẹp ấy?

Từ hôm đó, tôi đã vứt bỏ tất cả những bản phác thảo u ám.

Tôi bắt đầu đeo bảng vẽ, đi khắp phố phường.

Tôi không còn đi tìm những xung đột kịch tính, dữ dội nữa.

Tôi bắt đầu quan sát những khoảnh khắc bình thường, nhỏ bé nhất.

Tôi vẽ cặp đôi trẻ tuổi ngủ say tựa vào nhau trên tàu điện ngầm.

Tôi vẽ ông lão tóc bạc đang dạy cháu tập đi chập chững trong công viên.

Tôi vẽ cô gái đang ăn cơm hộp trong cửa hàng tiện lợi lúc nửa đêm, vừa ăn vừa cười khi nhìn điện thoại.

Tranh của tôi không còn những màu đen đậm hay vàng chói mắt.

Thay vào đó là những gam màu dịu dàng, ấm áp như ánh nắng mùa đông.

Tôi đặt tên cho bộ tranh này là “Ánh sáng nhỏ nơi thành phố”.

Mỗi tia sáng nhỏ bé, nhưng khi tụ lại với nhau, có thể chiếu sáng cả thế giới.

Tối trước hạn nộp tác phẩm.

Tôi hoàn thành bức tranh cuối cùng.

Tôi vẽ một cô gái.

Cô đứng trước cửa sổ lớn sát đất.

Ngoài cửa sổ là muôn vàn ánh đèn thành phố.

Trong nhà, một người phụ nữ mặc tạp dề, đang bưng đĩa bánh bao bốc khói nghi ngút, mỉm cười với cô.

Nụ cười ấy, rạng rỡ hơn tất cả những ánh đèn bên ngoài cửa sổ.

Ở góc phải phía dưới bức tranh, tôi ký tên Giang Niệm.

Bên cạnh là một dòng chữ nhỏ:

“Gửi đến tia sáng rực rỡ nhất trong đời tôi.”

20

Ngày diễn ra triển lãm tổng kết học kỳ, thời tiết thật đẹp.

Ánh nắng mùa đông rọi qua mái vòm bằng kính của bảo tàng mỹ thuật, chiếu xuống khắp phòng triển lãm.

Ấm áp lạ thường.

Bộ tranh của tôi, “Ánh sáng nhỏ nơi thành phố”, được treo ở bức tường nổi bật nhất.

Mỗi bức tranh có phong cách khác nhau.

Nhưng đều toát lên một thứ năng lượng tĩnh lặng, ấm áp.

Rất nhiều người dừng lại trước tranh tôi.

Họ xem rất chăm chú.

Trên khuôn mặt mang nét mỉm cười sâu sắc.

Mạnh Hạ kéo tay tôi, kích động thì thầm:

“Niệm Niệm! Cậu giỏi quá!”

“Phong cách vẽ của cậu thay đổi hoàn toàn luôn ấy!”

“Nhưng còn chạm vào lòng người hơn trước nữa!”

“Tớ nhìn mấy bức tranh này mà thấy ấm cả tim.”

Chu Việt cũng đi tới, chân thành khen ngợi:

“Giang Niệm, chúc mừng cậu.”

“Cậu đã tìm được một ngôn ngữ mới thuộc về riêng mình rồi.”

Giáo sư Tôn dẫn theo vài thầy cô, cũng đứng trước tranh tôi rất lâu.

Ông chỉ vào bức tranh tôi vẽ mẹ con tôi,

nói với các thầy cô bên cạnh:

“Mọi người nhìn xem.”