Y Liêu Thần nhớ lại yến tiệc đêm ấy, hoàng hậu trao hài nhi cho Ôn Lệnh Dư bế, hài nhi vừa vào lòng nàng liền khóc dữ dội.

Hoàng hậu lập tức bế về, nói hài nhi lạ người.

Ôn Lệnh Dư khi ấy vẫn giữ nguyên dáng bế con, ngơ ngác nhìn, ánh mắt trống rỗng.

Hắn lúc đó chỉ nghĩ nàng không biết cách ôm con, làm nó khóc.

Giờ mới hiểu…

Là Tô Vinh Thư trước khi trao con ra, âm thầm bấu một cái.

Đứa trẻ đau quá nên khóc.

Còn Ôn Lệnh Dư, trong mắt mọi người, liền thành kẻ không biết cách chăm con, thành trò cười “sinh không bằng dưỡng”.

Nàng lúc ấy, lòng đau đến nhường nào?

Nghe đám mệnh phụ nghị luận, nàng lại có bao nhiêu tủi nhục?

Thế mà nàng chẳng hề biện bạch, chỉ bình thản hành lễ cáo lui.

Mọi đớn đau, mọi ủy khuất, đều nuốt trọn vào trong.

Y Liêu Thần ôm chặt hài nhi, cảm thấy lỗ hổng nơi tim, lại càng loang rộng.

“H lui đi.” – hắn khàn giọng bảo.

Nhũ mẫu lui xuống.

Trong điện chỉ còn lại hắn, ôm lấy đứa trẻ đứng trong ánh trăng.

Công chúa đã ngủ say, mặt áp vào ngực hắn, thở đều đều.

Hắn cúi đầu, nhìn đôi mi giống hệt Ôn Lệnh Dư, mắt cay xè.

“Xin lỗi…”

Hắn thì thầm, không rõ là nói với con gái, hay người mãi mãi không còn trở lại ấy:

“Phụ hoàng xin lỗi con… xin lỗi mẫu thân con…”

Đứa trẻ chẳng hiểu gì, chỉ khẽ mút môi, ngủ càng sâu.

Y Liêu Thần ôm nàng, đứng suốt đêm trước cửa sổ.

Đến khi tờ mờ sáng, mới nhẹ tay đặt nàng vào nôi.

Sau đó quay lại án thư, đề bút hạ chỉ:

Truy phong Thục phi Ôn thị làm Đoan Ý hoàng hậu, nhập lăng mộ theo lễ nghi hậu vị.

Viết xong, hắn buông bút, nhìn bốn chữ “Đoan Ý hoàng hậu”, lòng ngổn ngang chua xót.

Đoan Ý – đoan chính hiền thục, đức hạnh lưu truyền.

Nàng xứng với hai chữ ấy.

Nhưng truy phong, tôn vinh sau khi chết – đối với nàng, liệu còn nghĩa gì?

Khi nàng còn sống, hắn chưa từng trao nàng lấy một phần tôn trọng.

Tới khi nàng chết rồi, mới nhớ đến bù đắp.

Thật là… trớ trêu thay.

14

Ba ngày sau, Ôn Trọng Khanh rốt cuộc cũng “bệnh khỏi” vào cung.

Y Liêu Thần tại điện Càn Thanh thân tiếp kiến.

Mới nửa tháng không gặp, tóc mai của Thái sư đã bạc thêm mấy sợi, đôi mắt hằn tia máu, sắc mặt tiều tụy chẳng khác người mang tang.

Y Liêu Thần trông ông, lòng thêm trĩu nặng ăn năn.

“Thái sư, xin nén bi thương.” Hắn thân rót chén trà, đẩy tới trước mặt Ôn Trọng Khanh.

Ôn Trọng Khanh tạ ân, song không động vào chén trà ấy.

“Không biết bệ hạ triệu lão thần tiến cung, là có điều chi dạy bảo?”

Y Liêu Thần trầm mặc giây lát, khẽ nói: “Trẫm đã truy phong Lệnh Dư làm hoàng hậu, nhập táng vào hoàng lăng, Thái sư đã hay tin chăng?”

“Đã hay.” Ôn Trọng Khanh điềm đạm đáp, “Lão thần thay tiểu nữ, tạ ơn thánh ân.”

“Trẫm…” Y Liêu Thần ngập ngừng, “Trẫm muốn biết thêm về nàng… Trước khi nhập cung, nàng là người như thế nào?”

Ôn Trọng Khanh ngẩng mắt nhìn hắn, ánh nhìn chất chứa muôn phần phức tạp.

“Bệ hạ muốn nghe điều chi?”

“Điều chi cũng được.” – Y Liêu Thần khẽ giọng – “Nàng thích gì, ghét gì, ngày thường hay làm gì… Trẫm đều muốn biết.”

Ôn Trọng Khanh nhìn hắn hồi lâu, đoạn chậm rãi mở lời:

“Lệnh Dư từ nhỏ thông tuệ, ba tuổi biết thuộc thơ, năm tuổi biết đối câu, bảy tuổi đã có thể làm văn. Song nàng không ưa phô trương, thường nói: ‘Nữ tử có tài, nên ẩn trong tâm, không cần lộ ra ngoài mặt.’”

“Nàng thích đọc sách, đặc biệt là sách sử. Có lần nói: ‘Đọc sử có thể thấy thịnh suy, hiểu rõ được mất.’ Trước khi nhập cung, thư phòng của nàng chất đầy sách sử.”

“Nàng vẽ rất khéo, đặc biệt là tranh sơn thủy và nhân vật. Bức họa bệ hạ đang giữ, chính là bức cuối nàng vẽ trước khi vào cung. Họa xong, nàng ngồi ngắm hồi lâu. Lão thần từng hỏi nàng vẽ ai, nàng chỉ cười: ‘Là một vị anh hùng.’”

“Nàng bề ngoài nhu hòa, kỳ thực nội tâm cương nghị, mang khí cốt của kẻ đọc sách. Lão thần từng lo tính tình nàng như vậy sẽ chịu thiệt trong cung, nàng chỉ đáp: ‘Nữ nhi hiểu, sẽ giữ đúng bổn phận.’”

Nói đến đây, giọng Ôn Trọng Khanh nghẹn lại.

“Mãi đến giờ lão thần mới hiểu, câu nói ‘giữ đúng bổn phận’ của nàng, chẳng phải thuận theo, mà là cõi lòng đã chết.”

“Nàng đem tất cả kiêu ngạo, tất cả góc cạnh giấu đi, chỉ để làm một vị phi tử ‘hiểu chuyện’ mà bệ hạ muốn. Nhưng bệ hạ có hay chăng? Nàng vốn không phải vậy. Nàng từng vì chuyện bất công mà tranh biện, từng vì thích một bài thơ mà vui suốt cả ngày, từng vì vẽ xong một bức tranh đẹp mà ánh mắt cong cong như trăng non…”

Y Liêu Thần siết chặt tay, móng tay hằn vào da thịt.

“Là trẫm… phụ nàng rồi.”

Ôn Trọng Khanh lắc đầu: “Không phải phụ. Bệ hạ chưa từng hứa hẹn, đâu thể nói là phụ. Là nàng… đặt sai tấm lòng.”

Một câu ấy, còn nặng hơn ngàn lời trách móc.

Sắc mặt Y Liêu Thần tái nhợt.

“Lão thần hôm nay vào cung, còn một chuyện khác.”

Ôn Trọng Khanh từ tay áo lấy ra một tập tấu chương: “Đây là bản tấu thỉnh cầu phế hậu, do ba mươi bảy vị đại thần cùng ký tên. Xin bệ hạ xem qua.”

Y Liêu Thần tiếp nhận, lật mở.

Tấu chương liệt kê mười tội lớn của Tô Vinh Thư, từng điều rõ ràng, bằng chứng xác thực.

Câu cuối cùng rằng: “Kẻ vô đức như vậy, há xứng mẫu nghi thiên hạ? Cầu bệ hạ phế hậu, chỉnh đốn hậu cung, an lòng bách tính.”

Y Liêu Thần đóng tấu, hồi lâu không nói.

“Bệ hạ,” Ôn Trọng Khanh đứng dậy, quỳ xuống, “Lão thần cầu xin bệ hạ, hãy vì tiểu nữ mà đòi lại công đạo, cũng vì thiên hạ mà lập một phép tắc – trong hậu cung, tuyệt đối không dung chứa kẻ ác độc hại phi, kẻ đức hạnh chẳng xứng ngôi cao!”

Y Liêu Thần nhìn mái tóc bạc trắng của ông, lòng như dao cắt.

“Thái sư, xin chớ đa lễ.” Hắn đỡ dậy, khẽ thở dài: “Trẫm… đã ban chiếu phế hậu.”

Ôn Trọng Khanh sững sờ.

“Tô thị bị phế làm thứ dân, chuyển đến lãnh cung, không chết thì không được rời.”

Y Liêu Thần chậm rãi nói tiếp: “Về việc truy phong Lệnh Dư làm hậu… Trẫm biết, ân điển này đến quá muộn, cũng chẳng còn nghĩa lý. Nhưng đây là việc duy nhất trẫm có thể làm.”