Tối trước ngày mở sạp, Trần Tiểu Hòa đi đến trước mặt tôi.

Trong tay cô bé nắm một tờ giấy, chi chít toàn số.

Chi phí của từng loại nguyên liệu, lượng mỗi phần, lợi nhuận ước tính mỗi bàn.

Chính xác đến từng xu.

“Tiểu Hòa, những cái này em tính nhẩm à?”

Cô bé rụt rè gật đầu.

Tôi gấp tờ giấy lại nhét vào túi.

“Từ ngày mai, em chính thức quản sổ.”

Nước mắt cô bé lại rơi, nhưng lần này cô không cúi đầu.

Mười tám tháng Giêng, khai trương.

Một cái nồi sắt lớn, dưới đốt than, trên dầu đỏ cuồn cuộn.

Ba bàn thấp, mười hai ghế dài.

Sáu món viết trên tấm ván gỗ—cải thảo, khoai tây, đậu phụ, miến, huyết heo, thịt heo thái lát.

Một tiếng đầu tiên, không ai tới.

Người trong huyện đi ngang chỉ tò mò nhìn một cái, ngửi mùi cay tê lạ lẫm rồi nhíu mày đi tiếp.

Người miền Bắc mùa đông ăn bánh chẻo uống cháo đặc, chưa từng thấy kiểu nhúng rau vào nồi dầu đỏ để ăn.

Tôi không vội.

Tôi thêm lửa, để dầu sôi mạnh hơn.

Hơi nước cuốn theo mùi cay tê theo gió bắc lan ra khắp nơi.

Mẹ tôi ngồi không yên, bèn dùng luôn cái giọng nổi tiếng khắp thị trấn của bà—

“Đi qua đi lại đừng bỏ lỡ—

Nhúng một nhúng trụng một trụng, ăn vào người ấm tận xương—

Không ngon không lấy tiền—”

Người đầu tiên dừng lại là một ông lão kéo xe than.

Mặt mũi lấm lem, mũ bông lệch sang một bên, chóp mũi đỏ bừng vì lạnh.

“Cái này là gì?

Bao nhiêu tiền?”

“Đồ nhúng.

Rau hai hào một đĩa, thịt năm hào.

Ngồi ăn tại chỗ, nước lẩu không tính tiền.”

Ông móc ra hai hào.

“Cho hai đĩa cải thảo.”

Tôi đặt cho ông một nồi nhỏ, múc nước lẩu pha thêm nước dùng đun sôi, dạy ông gắp cải thảo nhúng năm giây rồi vớt ra chấm nước.

Ông cắn một miếng.

Đầu tiên là sững lại.

Sau đó miệng không dừng, gắp hết miếng này đến miếng khác, đôi đũa như đang đánh nhau.

Ăn hết cải thảo lại móc tiền.

“Thêm một đĩa khoai tây!

Thêm miến nữa!”

Ăn đến cuối cùng còn uống cả nước dưới đáy bát.

Mặt đỏ bừng, lớn tiếng hét.

“Ngon!

Ngon thật con mẹ nó!

Giữa mùa đông ăn cái này, từng kẽ xương cũng nóng lên!”

Tiếng hét ấy còn hiệu quả hơn tiếng rao của mẹ tôi gấp vạn lần.

Người xung quanh lập tức vây lại.

Một người, hai người, năm người, mười người.

Đến trưa sáu món bán sạch.

Cha tôi đạp xe từ nhà mang đến mẻ thứ hai.

Ba giờ chiều lại bán hết.

Lúc dọn sạp thì trời đã tối.

Trần Tiểu Hòa kiểm lại con số trên tờ báo hai lần.

“Chị… chị dâu.

Hôm nay doanh thu… mười ba đồng bốn hào sáu.

Trừ… trừ chi phí bốn đồng bảy.

Lãi ròng… tám đồng bảy hào sáu.”

Tám đồng bảy.

Lương tháng của công nhân trong huyện hơn ba mươi đồng.

Ngày đầu tiên tôi đã kiếm được gần nửa tháng lương.

“Ngày mai thêm ba món.

Sách bò, ruột vịt, hoàng hầu.”

Mẹ tôi trợn mắt.

“Mấy thứ lòng đó ai ăn?”

“Ngày mai mẹ sẽ biết.”

Sách bò, ruột vịt, hoàng hầu.

Miền Bắc năm 1984, những thứ này gọi là đồ lòng.

Đồ thừa sau khi đồ tể cắt hết thịt ngon, ném cho chó còn bị chê.

Lão Triệu đồ tể nghe tôi nói muốn mua đồ lòng suýt mài dao vào tay.

“Hai hào một đống, không chê bẩn thì lấy.”

Tôi vác một thùng lớn về nhà, tối hôm đó dạy mẹ tôi xử lý.

Sách bò dùng nước kiềm xoa rửa cho nở giòn.

Ruột vịt lộn mặt, cạo sạch mỡ rồi dùng muối chà cho hết mùi.

Hoàng hầu chỉ cần bóc lớp màng mỏng bên ngoài.

“Mấy thứ bẩn này xử lý xong thật sự ăn được à?”

Mẹ tôi mặt đầy ghét bỏ.

Tôi không giải thích.

Bắc nồi nấu nước lẩu, gắp một miếng sách bò.

“Bảy lên tám xuống, nhúng mười lăm giây, thêm một giây là già.”

Mười lăm giây.

Vớt ra.

Chấm nước.

Đưa cho mẹ tôi.

Khoảnh khắc bà cho vào miệng, động tác nhai khựng lại một nhịp.

Giòn.

Mềm.

Dai.

Cay tê quấn mùi dầu thơm nổ tung giữa hàm răng.

Bà sững hai giây.

Sau đó miếng thứ hai, thứ ba, thứ tư.

Nước chấm cũng quên không chấm.

“Trời đất ơi.”

Bà đặt đũa xuống.

“Đây là cái đống bẩn kia à?”

“Hai hào một đống.”

CHƯƠNG 6 – ẤN ĐỂ ĐỌC TIẾP: https://yeutruyen.me/bat-canh-suon/chuong-6/