Khi tôi gả cho Triệu Trường Phong, anh ta vẫn chỉ là một sĩ quan nghèo cấp trung đội.

Năm đó, anh ta bị thương trở về quê, một chân đi tập tễnh, mặt mày bê bết m áu ngã gục trước cửa nhà tôi.

Cả thôn không ai dám cưu mang anh ta.

Là tôi cõng anh ta đi suốt ba dặm đường núi, dùng mũi Penicillin cuối cùng mà cha để lại để kéo anh ta về từ tay tử thần.

Sau đó anh ta trở về đơn vị, tôi đợi anh ta suốt bốn năm trời.

Trong bốn năm ấy, một mình tôi cày cuốc sáu mẫu ruộng, phụng dưỡng mẹ chồng đang liệt giường, lại còn lo cho hai đứa em trai của anh ta ăn học.

Trong những lá thư anh gửi về viết: “Đợi khi anh thành tài, việc đầu tiên anh làm là đón em ra thành phố.

” Tôi đã tin.

Tôi đợi được huân chương quân công của anh, đợi được thông báo anh thăng chức, đợi được căn hộ ba gian mà anh được phân ở thành phố.

Nhưng lại chẳng đợi được tấm vé tàu nào.

Thứ tôi đợi được là một người đàn bà tên Thẩm Lệ Hoa, người mặc áo kiểu Lênin, uốn tóc xoăn, vừa được điều từ đoàn văn công quân đội đến.

Cô ta đã dọn vào căn nhà vốn dĩ phải thuộc về tôi.

Triệu Trường Phong viết lá thư cuối cùng.

Trên thư chỉ có một câu: “Quế Trân, em là người tốt.

Nhưng anh và Lệ Hoa là đồng chí cách mạng.

” Người trong thôn ai cũng bảo tôi ngốc.

Mẹ chồng chỉ tay vào mặt tôi chửi: “Mày cứ chấp nhận số phận đi, đàn ông có bản lĩnh, ai mà chẳng thay vợ? Mày không xứng với Trường Phong đâu.

” Khi bà ta nói những lời ấy, bà ta vẫn đang xỏ đôi giày bông mới do chính tay tôi khâu, ngồi trên chiếc giường sưởi ấm áp mà tôi dày công chuẩn bị, miệng nhấm nháp hạt bí tôi tự tay phơi.

Đêm đó, tôi không hề rơi một giọt nước mắt.

Tôi gom hết mười bảy lá thư anh ta gửi về suốt bốn năm qua, rồi đốt sạch từng lá một.

Ánh lửa hắt lên tường, tôi nhìn thấy bóng mình – vừa đen vừa gầy, lưng đã còng xuống tự bao giờ.

Mới hai mươi sáu tuổi thôi.

Vậy mà trông chẳng khác gì bà già bốn mươi.

Sáng hôm sau, tôi lên xe lừa đi vào huyện.

Tôi không đi tìm Triệu Trường Phong.

Tôi đi tìm Hội Phụ nữ.

— 1.

Mùa xuân năm sáu mươi ba đến đặc biệt muộn.

Đã tháng ba rồi mà tuyết trên đồng vẫn chưa tan hết, gió rít trên mặt buốt như d ao cứa.

Hội Phụ nữ huyện nằm trên tầng hai của một tòa nhà gạch xám.

Lúc tôi đến, ngoài cửa đã ngồi sẵn bảy tám người đàn bà, kẻ bế con, người xách tay nải, ai nấy mắt mũi sưng húp, hệt như tôi.

Tôi xếp hàng mất hai tiếng đồng hồ.

Người tiếp tôi là cán sự Phương, ngoài ba mươi tuổi, tóc cắt ngắn, mặc chiếc áo vải xanh đã giặt đến bạc màu, nói năng dứt khoát, nhanh gọn.

“Tình trạng cô nói, chúng tôi đã tiếp nhận không ít.

” Cán sự Phương lật giở xấp giấy tờ tôi mang đến, lông mày nhíu lại: “Chồng vào thành phố thăng chức rồi đòi bỏ vợ quê.

Chuyện kiểu này, thái độ của tổ chức rất rõ ràng – kiên quyết phản đối thói ‘Trần Thế Mỹ’ phụ bạc.

” Bà ấy ngẩng đầu nhìn tôi: “Nhưng cô phải hiểu, con đường này không dễ đi đâu.

Chồng cô hiện giờ cấp bậc gì?” “Phó tiểu đoàn trưởng.

” Cán sự Phương im lặng vài giây.

Tôi biết bà ấy đang nghĩ gì.

Sĩ quan cấp phó tiểu đoàn trong thời đại này đã là người có m.

á.

u mặt.

Đơn vị của anh ta, cấp trên của anh ta, chưa chắc đã muốn vì một người phụ nữ nông thôn mà kỷ luật một cán bộ có công.

“Cô muốn kết quả thế nào?” Bà ấy hỏi tôi.

Tôi nắm chặt những ngón tay thô ráp đặt trên đầu gối, da tay chai sạn vì cầm cuốc cứng như vỏ cây.

“Tôi không cần anh ta quay lại.

” Cán sự Phương sững người.

Những người đàn bà đến đây, mười người thì chín người khóc lóc cầu xin tổ chức khuyên chồng quay về.

“Tôi muốn ly hôn.

” Tôi nói, “Nhưng những gì anh ta nợ tôi, thì phải trả.

” Cán sự Phương đặt bút xuống, nhìn kỹ tôi một lúc.

Tôi biết dáng vẻ mình lúc này chẳng lấy gì làm đẹp đẽ.

Da dẻ đen sạm, môi nẻ toác, tóc búi sau đầu bằng một dải vải đen, trên áo vẫn còn dính vài vệt bùn văng ra lúc sáng sớm đi cho lợn ăn.

Nhưng mắt tôi khô khốc, không một giọt lệ.

“Nói nghe xem, anh ta nợ cô cái gì.

” Tôi lấy trong túi áo bông ra một cuốn sổ gấp đôi.

Đó là cuốn sổ tôi tận dụng để ghi chép công điểm, ghi lại từng khoản một.

“Năm sáu mươi, anh ta bị thương trở về, tôi dùng thuốc Penicillin bố tôi để lại cứu mạng anh ta.

Viên thuốc đó bố tôi phải đổi bằng nửa bao hạt kê ở chợ đen.

” ” “Sau khi anh ta về đơn vị, một mình tôi cày cuốc sáu mẫu đất.

Từ năm sáu mươi mốt đến sáu mươi hai, lương thực của bốn miệng ăn trong nhà anh ta đều trông cậy vào tôi.

Mẹ anh ta nằm liệt giường, cũng là một tay tôi hầu hạ ăn uống, tắm rửa suốt hai năm.

” “Tiền học phí, tiền sách vở của hai đứa em chồng, cộng lại là bốn mươi bảy đồng sáu hào.

Tất cả đều là tiền tôi bán trứng, bán lâm sản tích góp từng đồng.

” “Mỗi tháng anh ta gửi về nhà tám đồng.

Tôi không dám tiêu một xu, tất cả đều dành mua thuốc cho mẹ anh ta.

Hai năm bốn tháng, số tiền anh ta gửi tổng cộng là hai trăm ba mươi đồng chẵn, cộng thêm tiền tôi bù vào, tiền thuốc men đã lên tới ba trăm mười bảy đồng.

” Tôi khép cuốn sổ lại.

“Thứ anh ta nợ tôi không phải là tình cảm, cán sự Phương à.

Anh ta nợ tôi bốn năm thanh xuân, mồ hôi nước mắt trên sáu mẫu ruộng, và cả mạng sống của chính mẹ ruột anh ta nữa.

” Cán sự Phương không đáp, cúi đầu viết một đoạn dài vào hồ sơ của tôi.

Cuối cùng bà ngẩng lên: “Cô biết chữ à?” “Biết sơ sơ.

Bố tôi là thầy giáo trong làng, từng dạy tôi vài năm.

” “Còn tính toán thì sao?” “Tôi biết.

” Cán sự Phương lấy từ ngăn kéo ra một tờ đơn đưa cho tôi.

“Điền cái này trước đã.

Tình hình của cô, tôi sẽ báo cáo lên trên.

” Bà ngừng một lát rồi hỏi thêm: “Tôi hỏi thật một câu – ly hôn xong, cô định sống thế nào?” Tôi nhận tờ đơn, tay không hề run.

“Tôi tự sống cuộc đời của mình.

” — Cán sự Phương sắp xếp cho tôi một căn phòng tạm ở kho tạp vụ của tòa nhà Hội Phụ nữ, chỉ có một chiếc giường gỗ và tấm chăn bông cũ.

Tôi mở tay nải mang theo, bên trong chỉ có hai bộ quần áo để thay, một đôi giày vải đế bện, và cuốn sổ ghi chép kia.

Trước khi đi, tôi đã để lại đủ lương thực và củi lửa cho mẹ chồng.

Học phí của hai đứa em chồng cũng đã đóng đến cuối kỳ.

Lúc tôi đi, mẹ chồng ngồi trên giường sưởi chửi bới: “Mày đi rồi thì ai hầu hạ tao? Đồ cái thứ không có lương tâm! Trường Phong bỏ mày là đáng kiếp!” Chú em chồng Triệu Trường Quân đứng ở cửa, môi mấp máy nhưng không nói lời nào.

Chỉ có bà Lý hàng xóm đuổi theo, nhét vào tay tôi năm quả trứng gà luộc, mắt bà hoe đỏ bảo: “Quế Trân, cháu làm vậy là đúng rồi.

” — Ngày thứ ba, cán sự Phương báo cho tôi biết, Hội Phụ nữ đã gửi thư đến phòng chính trị đơn vị của Triệu Trường Phong rồi.

“Theo quy định, đơn vị nhận được thư sẽ sắp xếp buổi nói chuyện.

Cô phải chuẩn bị tinh thần, quá trình này có thể sẽ kéo dài.

Họ thường sẽ khuyên giải trước.

” Tôi gật đầu: “Tôi đợi được.

” “Còn một việc nữa,” cán sự Phương nhìn tôi, “Cô cứ ngồi đợi không ở đây cũng chẳng phải cách.

Lớp học buổi tối ở huyện đang tuyển học viên dự thính, dạy chữ và toán, miễn phí cả.

Cô có muốn đi không?” Tôi ngẩn người.

Từ ngày gả vào nhà họ Triệu, tôi chưa từng chạm vào sách vở.

Mẹ chồng bảo đàn bà biết chữ là lãng phí lương thực.

Triệu Trường Phong trong thư cũng chẳng bao giờ hỏi tôi có đọc sách không, hắn chỉ dặn dò việc trong nhà – lợn khi nào bán, đất khi nào cày, mua thuốc cho mẹ hắn ở đâu.

Hắn chưa từng nghĩ tới việc tôi cũng có thể học hành điều gì đó.

“Đi ạ.

” Tôi đáp.

—2.

Lớp học buổi tối nằm trong một ngôi từ đường cũ cạnh ủy ban huyện, mái nhà dột gió, bảng đen thì được quét bằng muội than nồi.

Người dạy là một nữ giáo viên từ tỉnh xuống, họ Tề, khoảng ba mươi lăm, ba mươi sáu tuổi, dáng người cao gầy, đeo cặp kính gọng tròn.

Nghe bảo cô ấy từng là giảng viên Đại học Sư phạm tỉnh, mấy năm trước đã chủ động xin về cơ sở.

Buổi học đầu tiên, cô Tề không dạy chữ.

Cô đứng trên bục giảng, quét mắt nhìn hơn hai mươi người đàn bà ngồi bên dưới – có người là công nhân nhà máy, có người từ nông thôn lên, có người bế con, có người đang bụng mang dạ chửa.

“Tại sao các cô lại tới đây?” cô hỏi.

Dưới lớp xôn xao bàn tán.

“Học chữ để đọc hiểu thông báo ạ.

” “Học tính toán để ra cửa hàng bách hóa không bị người ta lừa.

” “Chồng tôi bảo tôi tới, bảo đến cái tên mình cũng không biết viết, mất mặt lắm.

” Cô Tề nghe xong, không cười cũng chẳng bình luận gì.

Cô quay lại viết bốn chữ lớn lên bảng.

“TỰ – LỰC – CÁNH – SINH.

” “Bốn chữ này là bài học đầu tiên các cô phải nắm vững hôm nay.

” Giọng cô không lớn, nhưng cả lớp đều im lặng, “Không phải vì chồng các cô, không phải vì con các cô, mà là vì chính bản thân các cô.

” “Một người phụ nữ, khi biết chữ, biết tính toán, mới có đôi mắt và bộ não của riêng mình.

Sau này người khác có lừa gạt hay ức h.

i.

ế.

p các cô, ít nhất các cô cũng nhìn ra được sự thật.

” Tôi ngồi hàng cuối cùng, tay siết chặt mẩu bút chì mượn được từ cán sự Phương, nắn nót chép bốn chữ đó vào vở từng nét một.

Viết đến lần thứ ba, tay tôi vẫn run.

Không phải vì lạnh.

Mà vì một thứ gì đó trong lòng tôi, thứ đã đè nặng suốt bốn năm qua, bỗng chốc được giải tỏa.

— Lớp học buổi tối mỗi tuần ba buổi.